Đôi mắt: Bài viết dưới đây của tác giả Thiên Lôi, đăng trên sachhiem.net. Bài viết cho chúng ta thấy “những bàn tay lông lá của quỷ” đã nhúng vào, điều khiển và khống chế các quốc gia nhỏ hơn như thế nào.

☼☼☼
Nội dung bài viết dĩ nhiên được nhìn dưới nhãn quan của dân nhược tiểu; chứ cách nhìn của dân Mỹ và tây phương đã bị nhiều lăng kính tinh vi cố tình làm biến dạng.

I) Lên Voi… Xuống Chó

1. Jacobo Árbenz Guzman (1913 – 1971) của Guatemala:

Cựu tổng thống Jacobo Árbenz của Guatemala (15 Tháng 3, 1951 – 27 Tháng Sáu, 1954) tiêu biểu cho một nạn nhân chính trị của ‘Chiến Tranh Lạnh’ sau Đệ Nhị Thế Chiến mà giới tư bản-quân sự Anh Mỹ và Ca-tô Vatican dựng lên kịch bản gọi là để chận đứng ‘làn sóng cộng sản vô thần’. Âm mưu chính phía sau vẫn là lợi dụng chiêu bài chống cộng để tiếp tục áp đặt quyền lực và lợi ích của tư bản và Nhà thờ trên các nước nhỏ, nhất là ở Nam Mỹ sát nách anh khổng lồ để bóc lột có hệ thống hơn. Nhìn lại ta mới thấy việc đặt con chiên cuồng tín Ngô Đình Diệm đang lưu vong ở các nhà giòng nước ngoài về cai trị Nam Việt Nam thời ấy chỉ là chuyện nhỏ… như ngọn cỏ của các ma đầu trên bàn cờ thế giới. Những cuộc chiến tranh cục bộ, thay đổi các nhà cầm quyền, bóc lột dân chúng, gây chết chóc, đói khổ và ly tán vẫn cón kéo dài cho đến ngày nay. Trong thời kỳ đó ở miền Nam Việt Nam người ta đã nghe đến danh từ ‘bàn tay lông lá’ rồi.

Song hành với chính sách này có sự chỉ đạo vận dụng đúng chiến lược, chiến thuật bộ máy truyền thông, báo chí (gọi là tư nhân) của các đại tổ hợp giòng chính (dĩ nhiên là do tư bản dựng lên để tẩy não quần chúng), mãi đến nay chẳng có mấy thay đổi. Ngạc nhiên là khi đọc lại các báo vào những năm sau đệ nhị thế chiến ta thấy những trang bìa và trang trong của Time, Newsweek, Life… đều bêu xấu cộng sản không tiếc lời.

Arbenz của Guatamala
Arbenz của Guatamala

Không lạ gì mà cho đến nay dân bản xứ ở Nam Mỹ vẫn căm ghét hết conquistadors Tây Ban Nha rồi đến Yankees, và mấy anh áo chùng đen, đỏ. Qua đó cũng cho ta thấy giáo hội Ca-tô Vatican luôn cấu kết với bọn tư bản thực dân để làm ngu dân và mạc dân bản xứ để cùng hút máu dân nghèo không bao giờ thỏa mãn.

Đầu thế kỷ 20, dân thuộc địa cũ cứ tưởng chiếc gông do bọn phong kiến thực dân châu Âu và Nhà thờ đeo vào cổ xưa kia nay đã được kẻ hào hiệp Hoa Kỳ gỡ bỏ, nhưng nào ngờ lại bị chính bọn tư bản thực dân mới này tiếp tục toa rập với cái giáo hội mà mình mê muội bấy lâu nay tròng vào cho một cái gông khác tinh vi hơn có đóng nhãn hiệu “tự do dân chủ, làm tại Mỹ”.

Chuyện về cựu tổng thống Jacobo Árbenz, xuất thân võ bị của Guatemala là một chuyện buồn thảm muôn đời của các nước nhược tiểu bị tư bản bóc lột mà đành chịu ngậm đắng nuốt cay. Cũng từ xứ nghèo Guatemala, nằm ngay phía nam nước Mexico người ta nghe đến cái tên tư bản Mỹ gốc Jews di dân từ Nga là Sam Zemurray với nông trại trồng chuối độc quyền bạt ngàn và Công ty United Fruit – UFC (nay là Chiquita) đã phối hợp cùng chú Sam và Ca-tô Vatican thò những bàn tay lông lá vào chính trị nội địa làm những cuộc đảo chính liên tục hạ bệ những nhà lãnh đạo nào không làm mình hài lòng bất kể có được dân yêu chuộng bầu cử lên hay không.

Báo chí đã đặt ra danh từ ‘bức màn chuối’ (banana curtain) để đối lại với từ ‘bức màn sắt’ mà Âu Mỹ đã gán cho các chế độ cộng sản bới nó đã áp bức dân địa phương rất sắt máu. Cũng từ đó vai trò lủng đoạn lật đổ của CIA càng ngày càng lớn mạnh và tinh vi hơn trong chính sách ngoại giao của Mỹ khắp thế giới.

Sau khi Mỹ đánh bại đế quốc Tây Ban Nha liền phát động ‘chủ thuyết Monroe’ để đuổi các tên thực dân Âu châu ra khỏi Nam Mỹ để mình độc quyền tận dụng tài nguyên và lao động rẻ mạt cho việc làm giàu kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ. Đại đa số các chế độ độc tài quân phiệt do Mỹ dựng lên cuối thế kỷ 19 đầu 20 đều là đám gia nhân gọi dạ bảo vâng cung cúc phục vụ cho quyền lợi của chủ nhân mới.

Trong số đó có nhà độc tài quân phiệt Jorge Ubico nắm quyền ở Guatemala vào năm 1930, đã đàn áp dân chúng khốc liệt, giành ưu đãi cho Nhà Thờ và các nhà tư bản Mỹ mua và khai thác tài nguyên đất đai, các ngành dân dụng như điện lực, hỏa xa, giao thông, … và miễn cả thuế thu nhập cho họ. Ubico luôn bảo vệ địa chủ và làm cả luật cho phép địa chủ bắt phu làm nô lệ để trả nợ và có quyền sát hại họ vô tội vạ. Y còn tự cho mình là kẻ phát xít và ngưỡng mộ Hitler, nhưng Mỹ vẫn o bế Ubico và viện trợ hào phóng để lập ra những bộ phận mật thám, đàn áp những kẻ chống đối.

Năm 1944, dân chúng bất mãn nổi loạn và đình công. Ubico từ chức, nhưng bộ sậu quân đội của y cử tướng Federico Ponce Vaides vào ghế tổng thống và lưu giữ các tổ chức cũ của Ubico (có giống với Hội Đồng Quân Lực VNCH sau 1963 hay không?). Một nhóm sĩ quan trẻ đã lật đổ Ponce vào ngày 19 tháng 10, 1944 trong ‘Cuộc Cách Mạng Tháng Mười’ và cho bầu cử lãnh đạo mới.

Người thắng cử là Juan José Arévalo. Arévalo đứng trong đảng Partido Acción Revolucionaria (“Revolutionary Action Party”, PAR), và đạt 85% phiếu bầu.

Arévalo liền cho tiến hành cải cách xã hội rộng rãi; nhưng chỉ làm được nửa vời vì bị chính quyền Mỹ, giáo hội Ca-tô Vatican, những nhà địa chủ, đại công ty chuối UFC… phá hoại cản trở vì cho Arévalo theo chủ nghĩa xã hội. Họ xúi dục các sĩ quan quân đội tạo phản và trong suốt nhiệm kỳ 6 năm của Arévalo đã có đến 25 cuộc âm mưu đảo chính. Cuộc âm mưu cuối đã bị tướng Jacobo Árbenz, đang làm bộ trưởng quốc phòng dẹp tan vào năm 1949 (có giống ‘chỉnh lý’ hay không?).

Jacobo Árbenz đắt cử vẻ vang trong cuộc bầu cử năm 1950, tiếp tục các cuộc cải tổ chính trị của tiền nhiệm, đặc biệt về đất đai trồng trọt trong một đất nước mà 2% điền chủ (đa số là ngoại quốc và nhà thờ) sở hữu đến 70% đất.

Ngày 17 tháng 6, 1952 Árbenz ra đạo luật truất hữu có bồi thường phần sở hữu vượt quá 672 mẫu để phân phối lại cho dân nghèo canh tác. Trong vòng 18 tháng Árbenz đã tái cấp 1 triệu rưỡi mẫu đất cho 100 ngàn gia đình. Việc này đã làm dân chúng vẫn còn ghi ơn cho đến nay.

Ngay từ năm 1951, với sự vận động ráo riết của Sam Zemurray chủ nhân ông của UFC, cùng với giáo hội Ca-tô Vatican, CIA liền tiến hành Operation PBFORTUNE nhằm lật đổ chính quyền Árbenz.

Năm 1953 dưới thời Eisenhower, sau khi hồ hởi với cuộc đảo chánh thành công ở Iran lật đổ thủ tướng Mossadegh để dựng lên vua bù nhìn Reza Pahlavi, thì liền ra lệnh CIA tiến hành mọi thủ đoạn tâm lý chiến qua Operation WASHTUB từ vu cáo, tạo chứng cớ giả, rỉ tai tuyên truyền vu cho Árbenz làm tay sai cho Liên Xô vv… đến Operation PBSUCCESS thì vụ lật đổ Árbenz thành công, dựng Đại tá Carlos Castillo Armas lên nắm chính quyền từ 1954-1957.

Chuối đẫm máu

Chuối đẫm máu

Árbenz được phép cùng tùy tùng và gia đình tị nạn ở nước ngoài, bước đầu đến Mexico rồi lưu vong thê thảm ở nhiều nơi khác ở châu Âu cuối cùng chết bí ẩn trong bồn tắm ở Mexico City năm 1971 vào tuổi 58, con gái thì đã tự tử vài tuần trước đó.

Các cuộc điều tra sau này về những cáo buộc của Mỹ đều là ngụy tạo vô căn cứ. Tháng 5, năm 2011 tổng thống Alvaro Colom đương nhiệm của chính phủ Guatemala đã chính thức xin lỗi gia đình và hậu duệ của cựu tổng thống Árbenz về cuộc lật đổ trái phép, chịu bồi thường tài chánh và tái lập thanh danh của Árbenz. Người con trai của ông là Jacobo Árbenz Villanova, hiện là một chính trị gia của Guatemala đã đại diện gia đình tại buổi lễ.

Được tổng thống Mexico, Luis Rodriguez đón khi lưu vong.Cả gia đình trên bước đường lưu vong lêu bêu ở châu Âu.

2. Manuel Noriega của Panama:

Xuất thân võ bị tại Peru; đã được Mỹ nâng đở, được huấn luyện tình báo và phản gián tại School of the Americas tại Fort Gulick năm 1967, cũng như một khoá tâm lý chiến tại Fort Bragg, Bắc Carolina. Y vốn làm việc và ăn lương của CIA từ đầu thập niên 1960s, trước khi được Mỹ cho lên làm Tổng thống Panama tử 15 tháng 12, 1983 đến 20 tháng 12, 1989. Đang tại nhiệm thì bị lính Mỹ xâm lăng Panama theo lệnh của Bush Cha và bắt đem về Mỹ nhốt từ January 3, 1990 như một tù binh chiến tranh với cáo buộc tội buôn bán ma túy, rửa tiền, giết người và vi phạm nhân quyền (Hãy thử tưởng tượng một kịch bản ngược lại là chính quyền một nước khác cho lính đổ bộ vào Washington DC để bắt nhốt Tổng thống Mỹ? Và các tội này có tên lãnh đạo nào mà không dính vào?).

Manuel Noriega – Thời còn gồ ghề.

Sự thật là khi Noriega ở đỉnh cao quyền lực của xứ nhược tiểu Panama cứ tưởng mình là… một lãnh tụ lớn trong vùng, nên Noriega đã cứng đầu không còn chịu nghe lời chú SAM, chủ yếu là các công ty đại tư bản đang khai thác xứ này và kiểm soát con kênh chiến lược thông hai đại dương. Trước đó Noriega đã hợp tác với Mỹ để đặt những căn cứ nghe lén gián điệp tại Panama để chống chính phủ Sandinista xã hội ở Nicaragua và theo dõi chuyển biến ở Châu Mỹ La-tinh; đã cung cấp vũ khí và huấn luyện cho quân contras do Mỹ chiêu mộ, buôn bán vận chuyển ma túy từ Colombia chia chác với CIA trong việc tài trợ cho contras (Có giống dùng dân H’mong và thuốc phiện ở Lào hay không?).…

Nhưng về sau do nhiều lý do bất đồng trong hợp tác, Noriega đã thủ lợi bằng cách bán vũ khí cho chính phủ Sandinista, còn làm lơ trước việc di chuyển của các lãnh đạo của Mặt trận Giải phóng El Salvador, Farabundo Martí tại Panama, và không còn tận lực trong việc cung cấp hỗ trợ quân sự cho lực lượng Contras nữa. Vậy là chỉ còn chờ ngày phán xử cuối cùng của… Chúa mà thôi!

cuAnhcuEm.net-Noriega và GeorgeHBush
Đang lên voi với George H. W. Bush năm 1983; bỗng xuống làm chó chỉ sau 7 năm. Thân thiện dồng minh kiểu Mỹ đáng rét lắm!

Và ngày ấy đã đến ở tòa liên bang tại Florida, Noriega bị kết án 40 năm tù, sau giảm xuống còn 30 năm, rồi xuống còn 17 năm. Hết hạn vào tháng 9 năm 2007 lại bị giải sang ở tù tiếp ở Pháp vào tháng 4 năm 2010 về tội rửa tiền hơn 7 triệu đô-la ở Pháp. Đã vậy chế độ kế nhiệm ở Panama do Chú Sam dựng lên còn tặng thêm 20 năm tù, xử vắng mặt vào năm 1995.

Noriega bị giam ở Florida Noriega bị cải đạo sang Tin lành.

Khi đang bị giam ở Florida thì Noriega (bị hay được) cải đạo sang Tin Lành được gọi là ‘tái sinh’ (born again Christian) vào tháng 5, năm 1990 do mấy anh truyền giáo Clift Brannon và Rudy Hernandez đã được giao nhiệm vụ thuyết phục để khỏi bị dẫn độ sang Pháp. Noriega vốn là tín đồ của Chính thống giáo. (Vào hoàn cảnh này, bố anh nào mà không chịu cải đạo? mà tại sao phải giành giật một anh đã theo Dê-xu từ lâu nhỉ?) Nhưng có theo đạo rồi thì giang hồ nước lớn vẫn coi như là con… chiên ghẻ.

II) Lên Voi… Xuống… Chó Chết:

1) Saddam Hussein (1937 – 2006) của Iraq:

Iraq khởi đi từ một nền văn minh cổ đại Babylon rực rỡ của nhân loại 3000 năm trước TL với kinh thành có vườn treo kỳ quan. Iraq đã từng có những vị minh quân như các Hoàng Đế Hammurabi, Nebuchadnezzar II, hay Cyrus… Babylon đã từng bắt dân Do-Thái làm nô lệ khổ sai, còn ghi trong kinh cựu ước. Iraq là một xứ sản xuất dầu hỏa trong tổ chức OPEC, đứng hàng thứ 2 trên thế giới.

Sau Đệ I Thế Chiến khi đế quốc Ottoman tan rã, Iraq đã bị Anh gián tiếp cai trị từ 1920-1932 dưới sự Ủy thác (Mandate of Iraq) của Hội Quốc Liên (tạo ra bởi bọn thưc dân tây phương); và chính bọn thưc dân Anh đã cắt một phần đất của Iraq để lập nên một nước độc lập Kuwait nhỏ bé để dễ tận dụng về sau; vì bọn này đã biết trước trữ lượng dầu của Kuwait (với 2 triệu dân) bằng với trữ lượng của Iraq (với 25 triệu dân). Trữ lượng dầu của cả hai nước chiếm 20% của thế giới. Saudi Arabia chiếm 25%.

Chuyện về Saddam thì tương đối còn mới và đã có rất nhiều tài liệu đề cập. Ở đây người viết chỉ xin tóm lược, tổng hợp và phân tích các động cơ chính trị thực sự mà thôi, những điều mà ta phải đọc giữa hai lằn đạn, à không giữa hai lằn chữ, trong núi tài liệu báo chí rồi tự mình thấy được ánh sáng cuối đường hầm.

Saddam xuất thân từ võ bị, và cũng là nạn nhân của ‘Chiến Tranh Lạnh’. Ông bắt đầu nổi danh trên chính trường Iraq từ 1968 qua cuộc Cách Mạng Tháng Bảy lúc vừa qua tuổi 30. Saddam trở thành đảng viên cao cấp của Đảng Xã Hội Ả-rập Ba’ath; từng làm Phó tổng thống dưới thời Tướng Ahmed Hassan al-Bakr từ 1968. Đến 1979 lên làm tổng thống khi al-Bakr từ chức.

Saddam theo đạo Islam, phái Sunni (6% dân số) trong khi đa số dân Iraq theo phái Shiite, vậy mà vẫn làm cho Iraq ổn định và đoàn kết trong một thời gian khá dài. Saddam đã quốc hữu hóa kỷ nghệ dầu hỏa vốn nằm trong tay tư bản Âu Mỹ vào những năm 1970s và kiểm soát chặt chẽ ngân hàng nhà nước. Ông đã từng đè bẹp các cuộc đảo chánh và nổi loạn của nhóm dân Kurds ở phía bắc đòi tách khỏi Iraq với sự xúi giục của Iran và đồng minh tây phương lúc bấy giờ.

Nhờ vào ngân sách thặng dư to lớn về dầu hỏa nhất là sau cuộc khủng hoảng đầu năm 1973; ông đã thực hiện nhiều cuộc cải cách mọi mặt xã hội rất thành công, nâng cao đời sồng dân chúng, thiết lập nền giáo dục mọi cấp miễn phí, cùng khuyến khích giáo dục phụ nữ và đã từng được UNESCO khen thưởng.

cuAnhcuEm.net-SadamHussein
Tổng thống thứ 5 của Iraq (16 Tháng 7, 1979 – 9 Tháng 4, 2003)

Saddam chống Israel và các chính sách của tây phương về dầu hỏa một cách mãnh liệt. Ngay khi tổng thống Anwar Sadat của Egypt ký thỏa hiệp hòa bình với Israel thì Saddam cắt đứt quan hệ giữa hai nước Iraq-Egypt. Saddam còn lãnh đạo khối Ả-rập phản đối Hiệp Ước giữa Israel và Egypt tại Camp David năm 1979. Đó cũng là nguyên do Saddam phải bị tiêu diệt.

Anh-Mỹ luôn chơi bài ba lá trong chính sách ngoại giao. Trong thời vua bù nhìn Reza Pahlavi cai trị Iran, Reza được khuyến khích cùng với CIA vũ trang cho nhóm dân Kurds đòi độc lập ở phía bắc Iraq để làm suy yếu tiềm năng của Iraq trong vùng, hoặc lật đổ cả chính phủ al-Bakr. Đến khi mất Iran sau cuộc Cách Mạng Hồi Giáo thành công vào ngày 11 tháng hai, 1979 đã lật đổ Reza do Mỹ dựng lên từ năm 1953 thì dưới thời Reagan (1981-1989), Anh-Mỹ vội vã ủng hộ Saddam để lấy thế kềm chế Iran dưới chính thể Cộng Hòa Hồi Giáo, ngăn cản Iraq ngã vào vòng tay của Liên Xô sau khi Alexei Kosygin và Ahmed Hassan al-Bakr ký thỏa ước kinh tế Iraqi–Soviet vào năm 1972, và ngừa cuộc Cách Mạng Hồi Giáo của Iran sẽ lan sang Iraq và các nước Ả-rập khác, nếu thành công thì tây phương sẽ bị cạn xăng dầu. Đấy là Thuyết domino lần thứ nhất! Bấy giờ Iraq đứng hàng thứ 3 các nước nhận viện trợ hào phóng của Mỹ.

Vì thế đã xảy ra cuộc chiến tranh Iran-Iraq trong 8 năm từ 9/1980 đến 8/1988 nói là vì tranh chấp con sông Shatt al-Arab dọc đường biên giới ở phía nam đổ vào vịnh Perse nằm giữa hai vùng Khuzestan và Basra, gần Kuwait, nơi có nhiều mõ dầu. Nhưng sự thật là Anh Mỹ đã ngầm ủng hộ Saddam tấn công Iran để lật đổ tân chính thể còn non yếu.

Thời ấy, Hoa Kỳ mắc phải Hội chứng Việt Nam (Vietnam Syndrome) sau khi bị thất bại cay đắng vào năm 1975, nên không muốn trực tiếp tham chiến ở Trung Đông; chỉ đến năm 1991 khi thấy chuyện chẳng đặng đừng trước việc Saddam bất tài bất lực làm hỏng việc lớn nên đành phải mang quân vào mà thôi, sau khi biết chắc Liên Xô quá yếu sẽ không can thiệp.

Sau khi quân Iraq tấn công phủ đầu chiếm được Khuzestan nhưng rồi bị đẩy lui và cuộc chiến giậm chân tại chỗ nhiều năm; và trong thế trên đe dưới búa Saddam đã đành phải dùng bom hóa học (gồm khí mù-tạt và chất liệt thần kinh do Tây Đức cung cấp) để tiêu diệt quân phiến loạn Kurds phía bắc qua chiến dịch Al-Anfal mà báo chí tây phương bấy giờ cho là tại thị trấn Dujail vùng Halabja vào tháng Ba năm 1988 đã có khoảng 20 ngàn thường dân thiệt mạng. (Thế nhưng khi Saddam bị đưa ra tòa xử năm 2003 thì con số tụt xuống là 148 người. (Báo chí Mỹ và tây phương có phải là một bộ phận tuyên truyền và phản tuyên truyền hữu hiệu của Tư Bản hay không?) Đồng thời Saddam còn dùng bom hóa học để diệt quân và dân Iran cộng thêm khoảng 100 ngàn người Iran chết mà Mỹ đã giúp phần không ảnh định vị các thành phố chi chỗ cho Iraq thả bom. Vậy mà khi Saddam thất thế 15 năm về sau Anh-Mỹ mới lôi ra kết tội… chó chết cũ mèm này.

Trong cuộc chiến Iran-Iraq có một điều quái gở nữa là chính Mỹ vừa vũ trang ồ ạt cho Iraq lại ngấm ngầm bán vũ khí cho Iran, về sau bị đổ bể thành vụ Iran-Contra dưới thời Reagan, mục đích là gián tiếp nhờ Iran can thiệp cho việc giải thoát con tin Mỹ ở Lebanon và dùng tiền bán vũ khí để tài trợ cho quân phiến loạn Contras do Mỹ dựng lên để chống chánh phủ Nicaragua.

Donald Rumsfeld gặp Saddam ở Baghdad
Đặc phái Trung Đông của Reagan, Donald Rumsfeld gặp Saddam ở Baghdad ngày 24 tháng 3, 1984. Có ai ngờ Rumsfeld sau này trở thành Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Bush Con đã treo cổ Saddam vào 2003? Hãy cẩn thận khi bắt bàn tay lông lá.

Đặc phái Trung Đông của Reagan, Donald Rumsfeld gặp Saddam ở Baghdad ngày 24 tháng 3, 1984. Có ai ngờ Rumsfeld sau này trở thành Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Bush Con đã treo cổ Saddam vào 2003? Hãy cẩn thận khi bắt bàn tay lông lá.

Qua cuộc chiến, chính quyền Reagan đã tài trợ cho Iraq 40 tỷ đô-la, chưa kể châu Âu và khối Ả-rập dưới áp lực của Anh Mỹ đã góp vốn khoảng 500 tỷ đô. Pháp bán hàng loạt chiến đấu cơ Mirages mới toanh lên đến 25 tỷ đô. Ngay cả anh tí hon Kuwait còn cho vay đến 30 tỷ. Hùng hậu đến vậy mà Saddam vẫn thua trận. Món nợ máu giành đó sẽ trả sau một lần cho hết.

Sau cuộc chiến, ông đạo Khomeini của Iran trở thành anh hùng trong khối Ả-rập vì đã đơn thân độc mã chống lại cả một khối liên minh khổng lồ, không khác gì Phù Đổng Việt Nam vậy; vì thế mà Anh Mỹ không nổi điên sao được? Mối hận ngậm đắng nuốt cay này bị dồn nén qua bao chính quyền Mỹ và Israel chờ ngày bùng nổ.

Chính sự tâng bốc Saddam của Anh-Mỹ trong thời Reagan đã làm cho Saddam mắc bệnh cuồng vĩ ngu ngơ tựa như Noriega, Khadaffi, Ngô Đình Diệm… tưởng mình là ‘thằng người có đuôi – vĩ nhân’ trong vùng Trung Đông mà không thấy trước ngày tàn của mình dưới bàn tay của quỷ. Có ai còn nhớ thời ấy Diệm được thổi là Winston Churchill của ĐNA (B.S.!!!) Hollywood được dùng để tô màu cho cuộc giao hảo thân mật Mỹ-Iraq qua các cuốn phim về Indiana Jones với Harrison Ford do các sư tổ đạo diễn Jews như George Lucas và Steven Spielberg quay ở vùng Trung Đông. Ai bảo Hollywood chỉ là để giải trí?

Sau cuộc chiến với Iran kinh tế của Iraq bị khủng hoảng trầm trọng. Iraq mắc nợ như chúa chỗm. Ngay cả anh tí hon Kuwait vốn đã được CIA móc nối giàn dựng trước nhất định đòi Iraq phải trả nợ đúng hẹn dù ông anh Saddam năn nĩ xin xóa đi. Saddam đề nghị OPEC giảm xuất khẩu dầu và tăng giá để Iraq có cơ hội trả nợ dần, Kuwait lại làm ngược, tăng lượng dầu lên gấp đôi để bù lại.

Saddam nổi giận xung thiên cáo tội Kuwait đã thọc ống hút sang mõ dầu của Iraq hút trái phép bấy lâu nay, liền xua quân xuống xâm chiếm ‘dạy cho một bài học’ tiện đôi bề sổ sách, vừa để xóa nợ vừa chiếm hết các mõ dầu. Nhưng Saddam đâu ngờ mình đã rơi vào cái bẩy do Anh-Mỹ bày ra, chờ ngày chết thảm thương cùng với dân tộc Iraq.

Bấy giờ là thời Bush Cha (G.H.W. Bush) ngồi ở Nhà Trắng (1989-1993) và bà già giết giặc Margaret Thatcher thì ở Downing (1979-1990), còn Liên Xô, một đối thủ đáng gờm thì đang bị Anh-Mỹ gài cho sa lầy ở cuộc chiến ở Afghanistan (1978-1989) với Muhajidins Taliban do Mỹ tài trợ.

Anh-Mỹ vui mừng hả hê không thấy còn gì trở ngại cho kế hoạch thống trị thế giới của mình; chương trình đã vạch thì cứ như vầy như vầy mà làm. Saddam cũng thừa biết tình hình trên thế giới rất bất lợi cho cuộc phiêu lưu dế mèn của mình nhưng đã lỡ cởi lưng cọp còn biết làm gì được nữa?

Trước khi mạo hiểm, Saddam đã cẩn thận thăm dò phản ứng của anh Bố già Mỹ qua buổi gặp gỡ khẩn cấp với đại sứ Hoa Kỳ bấy giờ là chị chàng April Catherine Glaspie gốc Canada trong ngày 25 tháng 7, 1990 tại Bagdad.

Chẳng biết lối nói của Glaspie lươn lẹo làm sao mà Saddam tưởng là Mỹ bật đèn xanh, liền hô to lính tráng nai nịt ngon lành, ‘trống trường thành lung lay bóng nguyệt’ kéo xe kéo pháo súng ống đầy đủ ào ạt xuống mạn dưới chiếm gọn Kuwait chỉ trong vòng một tuần.

Ngày 28 tháng 8, 1990 thì chính thức tuyên bố Kuwait là một phần của lãnh thổ Iraq. Xem lại video tài liệu cho thấy số lượng xe tăng thiết giáp của Iraq bị hủy diệt và đã được Anh-Mỹ dọn dẹp xếp dày đặc trên sa mạc từ chân trời đến chân trời mà khiếp đảm. Mà có lo gì! chẳng mấy chốc Mỹ sẽ bắt tân chính phủ mua lại vũ khí mới của Mỹ không mấy chốc. Làm ăn kinh tế qua chiến tranh mà lị.

Người ta chửi chị Glaspie là đàn bà xảo trá, nhưng chị ta đã hoàn thành nhiệm vụ thuyết khách được giao một cách xuất sắc. Chị được gởi đến Bagdad làm đại sứ Mỹ chỉ có 2 năm (1989–1990) mà đã đưa được cổ của Saddam vào thòng lọng.

Anh cáo già Mỹ chỉ chờ giây phút ấy bèn xoa hai bàn tay quỷ, miệng bắt đầu khạt lửa Chiến dịch Bảo Sa Mạc (Operation Desert Storm). Trước khi hành động thì Anh Mỹ cũng phải giả vờ tìm thỏa thuận của 5 nước trong HĐBA-LHQ cho phải phép. Bấy giờ thì Tàu và Liên Xô như gà mắc dây thun, chuyện nhà còn đang rối như tơ vò gở chưa ra, lại được Anh Mỹ hứa hẹn chia chát món sộp ở hậu trường làm mầy anh ngậm miệng.

Chuyện thế nào thì mọi người đều đã rõ. Đạo quân xâm lăng của Iraq bị hoàn toàn tiêu diệt trên đường tháo lui ‘di tản chiến thuật’. Quân Mỹ chỉ đuổi quân Iraq đến ngoại thành Bagdad thì dừng lại theo lệnh Bush Cha vì ngày tranh cử ở Hoa Kỳ gần kề. Giá mà Bush Cha cho tiến thêm chút nữa thì ngày nay may ra Saddam vẫn còn sống.

Hai hình ảnh chiến tranh có giống nhau không?

Đại Lộ Kinh Hoàng (xa lộ tử thần)– Iraq – 1991Đại Lộ Kinh Hoàng – Quảng Trị – 1972

Chiến dịch chấm dứt cuối tháng 2, 1991, và Mỹ đã tạo ra được chiến trường để thử nghiệm những vũ khí mới. Lần đầu tiên Mỹ đã sử dụng Stealth fighters F-117 thành công ở Gulf War I này. Quân đội Iraq hầu như tan rã, kinh tế tài chánh kiệt quệ. Hạ tầng cơ sở cùng nguồn dầu mõ bị Anh-Mỹ chiếm hoặc bị phá nát. Đã vậy LHQ dưới áp lực của Anh Mỹ còn ra lệnh cấm vận Iraq làm cho dân tình khốn đốn, đất nước thêm nghèo đói. (Tây phương chỉ biết dùng phương sách đốn mạc này để hành hạ dân nhược tiểu). Rồi trong vòng 10 năm sau Anh-Mỹ còn chèn ép Iraq đến ngã gục luôn; gởi hết đoàn giám sát này đến đoàn khác của LHQ và IAEA dẫn đầu bởi Hans Blix tiếp tục dò xét khắp nơi của Iraq để xem có “tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt – WMD ” hay xây dựng vũ khí hạt nhân hay không; lại còn vạch vùng cấm bay trên không phận Iraq để phe ta an toàn khai thác dầu hỏa. Trước đó Saddam đã dại dột lớn giọng rằng hỏa tiển scuds của Iraq có thể bắn tới Israel và Saudi Arabia.

Gulf War I này còn nổi lên một cái tên đại tổ hợp kết xù là Halliburton, bản doanh đóng ở Houston gần George H.W. Bush Intercontinental Airport kể từ năm 2002, nhưng làm ăn khắp toàn cầu từ lâu. Halliburton đã được giao món thầu béo bở để dập tắt và dọn dẹp các mõ dầu ở Iraq bị cháy vì bom đạn. Đầu những năm 1990s, Halliburton đã từng bán cho Libya nhiều máy khoan dầu và máy phát điện tân tiến dù vi phạm lệnh cấm vận của LHQ đối với nước này; vậy rồi cũng huề cả làng.

Năm 1995, Dick Cheney thay Thomas H. Cruikshank làm chủ tịch và CEO của Halliburton cho đến khi sang Nhà Trắng làm Phó tổng thống năm 2001. Năm 1998, Halliburton mua lại Dresser Industries (gồm Kellogg) của Prescott Bush, cha của George H. W. Bush tức Bush Cha, mà ông đã từng làm việc tại đấy từ 1948 to 1951 trước khi nhảy sang nghề buôn bán chính trị mau giàu hơn.

Halliburton đã liệt kê đến 27 công ty con liên hệ (trá hình) trong đó Halliburton Products and Services Ltd. tại Iran ngay cả trong thời kỳ Dick Cheney làm chủ tịch. Khi Wall Street Journal tiết lộ tin này vào năm 2001 thì Halliburton Mẹ bảo là Halliburton Con ở Tehran làm việc cho Công ty ngoại quốc Cayman Islands từ 1975, chứ không thuộc Mỹ.

Bush Cha thất cử đắng cay vào tay Bill Clinton (1993-2001). Bill Clinton bấy giờ chú tâm hơn vào vùng Balkans (Serbia-Bosnia) nên tạm thời tha chết cho Saddam. Khi có chiến trận ở Balkans, Kellogg Brown-Root (KBR – về sau sáp nhập vào Halliburton) (có nhớ đến RMK trong chiến tranh Việt nam không nhỉ?) được giao thầu cung cấp tiếp liệu cho quân NATO gìn giử hòa bình. Về sau qua Gulf War II và cuộc chiến ở Afghanistan, Halliburton đã được độc quyền thầu nhiều gói vô cùng béo bở lên đến cả hàng chục tỉ đô-la để thu dọn chiến trường, tuyển mộ và huấn luyện cựu chiến binh vào các đội quân đánh thuê (dân sự), xây cất nhà tù ở Iraq và Guantanamo để nhốt ‘bọn khủng bố hồi giáo’…

Mãi đến thời kỳ Bush Con (2001-2007). Chuyện các mỏ dầu ở Iraq phải giải quyết dứt khoác, thế là với sự giàn cảnh sắp xếp tinh vi nhịp nhàng của nhóm Neo-Con về tình hình thế giới, với 9/11, với Taliban, với Al-Queda, với Bin-Laden… đủ tạo lòng căm thù của dân chúng Mỹ lên ngất trời. Lần này dù không được sự thỏa thuận của HĐBA-LHQ, Mỹ cũng đếch cần, vẫn một mình tự biên tự diễn và hồi kết cuộc ra sao mọi người đã rõ.

Tháng 3, 2003 quân Anh Mỹ xâm lấn Iraq. Tháng 4 chiếm Bagdad sau 3 tuần. Tháng 11 bắt được Saddam. Tháng 11, 2005 bị xét xử. Tháng 12 năm 2006: bị treo cổ.

Saddam Hussein bị treo cổ
Saddam Hussein bị treo cổ

2) Anh Là Ai?

Hay chỉ là một nạn nhân của ‘Chiến Tranh Lạnh’. Một con chiên ghẻ bị tế dưới những bàn tay lông lá của quỷ?

Trên có Chúa, dưới có Cha.
Ba Chàng Ngự Lâm (của vua Bảo Đại J) thời oanh liệt.
Đại sứ Henry Cabot Lodge và Diệm
Cáo già vẫn lịch sự cho đến trước giờ chết.
Và rồi, giờ thứ 25!

Nhưng ngày nay nghề làm tay sai cho ngoại bang vẫn còn là một nghề béo bở cho gia đình và phe phái, nên trong giới con chiên Ca-tô Mít vẫn không thiếu kẻ bon chen xin đầu quân bưng bô cho chủ.

III. Nhận Xét Của Người Viết Thay Lời Kết:

1. Anh-Mỹ, với nhiều yếu tố lịch sử, trong đó có giới tư bản quốc tế gốc Jews đã gắn liền quyền lợi của hai quốc gia này. Họ chỉ là một nhóm nhỏ nhưng có đầu óc to, giỏi về kiếm tiền nên đã biết dùng tiền đúng chỗ đúng cách và đúng lúc chui sâu trèo cao vào trong hệ thống cầm quyền của hai nước này, đã chi phối toàn bộ chính sách ngoại giao, giáo dục, kinh tế, truyền thông… tóm lại là cả nền chính trị của nền văn hóa tiếng Anh từ rất lâu; và với vị thế của Anh-Mỹ ngày nay trên thế giới có nghĩa là toàn cầu. Lắm khi giới lãnh đạo Jews ở Israel đã không ngần ngại công nhận điều đó với thế giới. Ta cũng nên phân biệt Israel (là xứ sở nhỏ bé ở Trung Đông) và Jews (là tín đồ theo đạo Judaism), nên người viết cố tránh dùng danh từ Do-Thái một cách chung chung.

2. Sử thế giới đã sang trang từ sau khi các đế quốc thuộc địa Tây Âu sụp đổ, kéo theo vai trò của Giáo hội Ca-tô Vatican (GHCV). Do Thái giáo với biến dạng là Tin Lành (Judeo-Chrisanity) đang ngự trị qua hệ thống tân tư bản thế giới gốc Jews, vốn đã và đang di cư sang ‘tân thế giới ồ ạt giúp làm cho Hoa Kỳ trở thành một siêu cường bá chủ.

3. Đây cũng là thời kỳ dân Jews trả thù GHCV cho những tội ác đã gây ra với dân Do Thái trong hơn một ngàn năm qua. Hệ thống tư bản thế giới gốc Jews không dại gì làm rùm beng về chuyện này và đánh sập GHCV gấp rút bởi giá trị lợi dụng còn đang tốt ở các đất nước nhược tiểu, dân trí thấp kém. Họ vẫn để cho GHCV tiếp tục truyền bá ‘phúc âm’ và bành trướng ảnh hưởng của cái giáo thuyết mê tín của Jesus, vốn cũng có cái lợi cho mình vì Jesus là dân Jews và đã tự nhận là con của Jehovah. Tạm thời chia chát với nhau rồi hãy tính sau.

4. Khi có nguồn tài nguyên thế giới trong tay thì Mỹ tận dụng phát huy vũ khí tối ưu, ngay cả ra không gian, để bảo vệ những gì mình đã chiếm đoạt. Hiện Mỹ có 737 căn cứ quân sự trên khắp hoàn cầu để cai trị lãnh thổ tân đế quốc. Chánh sách đối ngoại của Mỹ cứ như mình là chủ nhân ông của thế giới. Mỹ xem các chánh quyền nước khác cứ như là phiên vương dưới trướng bởi hiện nay Mỹ đang ở đỉnh cao của thịnh đạt của tân đế quốc, không có đối thủ.

5. Chiến thuật trong tương lai sẽ là không sử dụng quân đội ồ ạt hao tốn để xâm lăng, mà tạo những nhóm đánh thuê chuyên nghiệp từng vùng; liên tục gây hổn loạn nội bộ các nước nhỏ thiếu thân thiện, nhất là làm lớn chuyện bất hòa tôn giáo; nuôi dưỡng nhóm đối lập để chờ thời vùng lên chiếm chính quyền. Về vũ khí thì nghiêng về hàng ngàn vệ tinh bay quanh trái đất dò thám, về đủ loại phi pháo nhất là UAV, Drones mà trung tâm chỉ huy ở rất xa có thể điều khiển để truy lùng và tiêu diệt kẻ địch mà không trực chiến…

6. Những vụ cách mạng đủ thứ hoa, nhất là gần đây việc tiêu diệt những lãnh đạo có tiếng trong thế giới Ả-Rập chỉ là màn ‘dằn mặt’ thị oai đối với những ai còn mưu toan chống Mỹ. Chiến lược của Mỹ là đang dần xiết vòng vây xung quanh Iran để trả mối hận 1979 và khống chế các mỏ dầu.

7. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, tây phương tập trung nổ lực tiêu diệt khối Cộng Sản quốc tế, cầm đầu bởi Liên Xô bởi khối này có khả năng đe dọa an ninh và quyền lợi của Hoa Kỳ. Họ khai thác được sự hiềm khích giữa Nga và Tàu, làm cho khối này tan rã. Họ đã tạo nên một tình trạng căng thẳng quân sự thường trực cùng với bộ máy phản tuyên truyền tinh vi làm cho Liên Xô rơi vào mê hồn trận thi đua vũ trang, xao lảng việc củng cố kinh tế đã làm cho Liên Xô sụp đổ vào năm 1989, sau thất bại ở Afghanistan.

8. Nhược điểm của khối Cộng Sản là không nâng cao được đời sống dân chúng lên đến mức thoải mái để dân chúng lệ thuộc và ủng hộ chánh quyền như Âu-Mỹ. Hiện Tàu cố gắng thực hiện điều này.

9. Sau khi Liên Xô bị sụp đổ thì thế lưỡng cực trên thế giới cũng biến mất, chỉ còn Hoa Kỹ là siêu cường duy nhất cho nên các chính sách ngoại giao của Mỹ cũng ngông cuồng không kém, ‘mục hạ vô nhân’, nhất là đến thời Bush Con, với nhóm cố vấn Neo-Con (Tân Bảo Thủ) đã thảo một chương trình dày 33 trang gọi là “Bush Doctrine,” theo kiểu cao-bồi xã hội đen ‘theo ta thì sống, chống ta thì chết’, thần phục ta thì ta sai gì làm nấy, ta chia cho chút ít lợi nhuận tài nguyên để… còn có bả mía mà hít. Các đế quốc cũ của châu Âu mà Rumsfeld đã có lần cười nhạo là ‘già nua’, nay cũng chỉ theo ‘đóm’ Mỹ để ‘ăn tàn’. Sau thế chiến II, có lẽ Mỹ đã bảo các chú em da trắng chớ nên chếm giết lẫn nhau nữa vì ba cái mỏ tài nguyên vụn vặt mà nên tập trung làm việc cho anh hai để tóm gọn trọn bộ trên toàn thế giới vốn nằm trong tay bọn… da màu.

10. Thế giới Cộng sản đã thực sự tan rã do màn gây chia rẽ Trung Xô kể từ khi Kissinger sang Bắc Kinh gặp Chu Ân Lai vào năm 1971. Đài Loan bị Mỹ đá đít sau một thời gian dài làm đồng minh, trao lại cho Tàu cộng ghế thành viên vĩnh viễn ở HĐBA/LHQ. Tiếp đến Mỹ còn tặng Tàu món quà Hoàng Sa vào năm 1974. Nay Mỹ đổi chiêu bài ‘chống cộng’ thành ‘bảo vệ nhân quyền’ cho hợp thời trang sau khi không còn ‘cộng’ để đấu súng nữa. Bọn tư bản quốc tế đang làm ăn buôn bán vui vẻ với Tàu, giao cho anh Ba cặm cụi sản xuất đủ món từ thượng vàng đến hạ cám để bỏ túi phần lợi nhuận kinh khủng.

Hình như đã có giao ước rằng đàn em Tàu đừng xía vào Trung Đông thì anh hai Mỹ sẽ giao phần tài nguyên dầu khí ở Biển Đông mà Mỹ đã khảo sat từ lâu, miễn đừng gây trở ngại đường hàng hải quốc tế. Tàu đã ngoan ngoãn vâng lời chủ mới sau khi thấy gương đàn anh Liên Xô, nên được hưởng mọi điều một xứ nghèo hằng mơ ước. Đừng vội tưởng Tàu chống Mỹ hay Mỹ bao vây Tàu. Chỉ là điệu múa của quỷ trên sân khấu chính trị thế giới mà thôi.

11. Chuyện đã rõ như ban ngày nhưng giáo hội Ca-tô-Vatican vẫn không bỏ được chiêu bài ‘chống cộng’, nhất là đối với dân Ca-tô Mít cuồng tín, cho đến ngày nào dân bắc kỳ di cư này hết còn ảo vọng nắm được chính quyền ở Việt Nam. Vả lại thành tích nhân quyền của giáo hội Ca-tô Rô-ma – Vatican nếu hô lên thì thực là xấu hổ. Do đó mà ta cứ tiếp tục nghe bài ca con cá… chống ‘gậy’… đến mệt nghỉ.

12. Chính trị của lòng tham lam vô giới hạn đã đạt đên tầm cao của giảo hoạt vô đạo đức, làm tôn giáo trở thành trò mua vui. Cho nên chớ tin vào nhưng lời hoa mỹ của Hoa Kỳ khi họ ca tụng ai. Càng ngọt mật thì càng chết ruồi. Trong giao tế với Mỹ thì hôm nay là bạn mà ngày mai có thể là thù tùy quyền lợi vật chất nằm ở đâu.

Chính vì những hành động xảo quyệt, ngôn hành bất nhất mà ngày nay không còn mấy nước tin vào những lời đường mật của chính phủ Hoa Kỳ nữa. Lãnh đạo các nước bạn, thù hay trung lập với Mỹ dù không ưa gì Mỹ nhưng không thể sống thiếu Mỹ; đành phải giao tiếp với dè chừng bởi bọn tư bản chỉ cần lợi nhuận, không cần đạo đức nhãm nhí. Do đó mà thân phận các nước nhỏ đều tùy thuộc vào sự khôn ngoan của chính sách ngoại giao đối với các nước lớn, càng tránh được chiến tranh càng tốt mà tồn tại.

Nhưng lịch sử nhân loại cũng cho thấy rằng không có đế quốc nào… muôn đời cả. Nhưng biết đến lúc nào?

© Đạo Sĩ Chăn Gà

😍😍Nếu bạn thấy nội dung này có giá trị, hãy mời bần đạo một ly cà phê nhé!😍😍